TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THÁNG 1 NĂM 2009

I.  Đánh giá chung

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước tháng 1 đạt 7,05 tỷ USD giảm 43,3% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó, xuất khẩu đạt 3,72 tỷ USD, giảm 25,7% và nhập khẩu là 3,33 tỷ USD, giảm 55,2% so với tháng 1 năm 2008. Tháng đầu tiên của năm 2009, do tốc độ giảm kim ngạch nhập khẩu gấp hơn 2 lần tốc độ giảm kim ngạch xuất khẩu nên Việt Nam đã xuất siêu 395 triệu USD.

II.  Xuất khẩu

1.  Qui mô và tốc độ

Tổng kim ngạch xuất khẩu tháng 1 năm 2009 đạt 3,72 tỷ USD, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,51 tỷ USD, giảm 22,8% so với cùng kỳ năm 2008 và chiếm 40,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của cả nước.

2. Các mặt hàng chủ yếu

- Dầu thô: trong tháng xuất khẩu gần 1,4 triệu tấn, tăng 13,1% về lượng so với cùng kỳ năm trước. Do giá bình quân giảm 54,6% (tương đương với giảm 396 USD/tấn) nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dầu thô tháng 1 năm 2009 là 458 triệu USD giảm 48,6% so với tháng 1 năm 2008. Dầu thô là mặt hàng dẫn thứ hai về kim ngạch xuất khẩu (sau hàng dệt may) và chiếm 12,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong tháng 1/2009.

Hết tháng 1/2009, lượng dầu thô của Việt Nam chủ yếu xuất sang các thị trường là Singapore: 368 nghìn tấn, Malaysia: 302 nghìn tấn, Ôxtrâylia: 256 nghìn tấn, Nhật Bản: 183 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 104 nghìn tấn, Trung Quốc: 94 nghìn tấn. Kim ngạch xuất sang các thị trường này chiếm 94,1% kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam.

- Than đá: lượng xuất khẩu trong tháng là 1,46 triệu tấn, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2008, kim ngạch đạt gần 80 triệu USD, tăng gần 16% so với tháng 1/2009.

Dẫn đầu trong các thị trường nhập khẩu than đá của Việt Nam trong tháng qua là Trung Quốc với 1,2 triệu tấn, chiếm 82,1% tổng lượng than xuất khẩu của Việt Nam. Tiếp theo là Hàn Quốc với 152 nghìn tấn, Nhật Bản với 88 nghìn tấn, Ấn Độ với 16 nghìn tấn,…

- Hàng dệt may: trong tháng đạt 723 triệu USD, giảm 12,2% so với tháng 1/2008. Hàng dệt may là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu và chiếm gần 19,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong tháng 1/2009.

Trong tháng 1/2009, Hoa Kỳ và EU vẫn là hai thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ đạt kim ngạch là 394 triệu USD và EU đạt kim ngạch là 144 triệu USD.

- Hàng giày dép: là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 3 trong tháng của Việt Nam với kim ngạch đạt gần 358 triệu USD, giảm 24,4 % so với cùng kỳ năm 2008, chiếm 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

EU tiếp tục là đối tác dẫn đầu về tiêu thụ hàng giày dép của Việt Nam với kim ngạch trong tháng đạt được là 188 triệu USD chiếm 52,4% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước. Tiếp theo là Hoa Kỳ: 86 triệu USD, Nhật Bản: 12,6 triệu USD, Mêxicô: 10,1 triệu USD,...

- Hải sản: trong tháng xuất khẩu 212 triệu USD, giảm 30,9% so với tháng 1/2008.

Hết tháng 1/2009, trị giá hải sản xuất khẩu sang EU đạt 55,8 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản: 40,2 triệu USD, Hoa Kỳ: 31,2 triệu USD, Hàn Quốc: 17,3 triệu USD. Trị giá xuất khẩu mặt hàng này ở các thị trường khác là 67,6 triệu USD, chiếm 31,9% tổng kim ngạch hải sản xuất khẩu của cả nước.

- Gạo: trong tháng xuất khẩu 270 nghìn tấn, tăng 106,8% so với cùng kỳ năm 2008. Đơn giá bình quân xuất khẩu mặt hàng trong tháng là 407 USD/tấn, tăng 3,65% và trị giá đạt 110 triệu USD, tăng 114% so với cùng kỳ năm trước.

Tính đến hết tháng 1 năm 2009, Việt Nam xuất khẩu gạo sang Châu Á là 117 nghìn tấn, chiếm 43,4% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước (trong đó, Malaysia vượt lên là nước dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam với 52 nghìn tấn, các nước còn lại 65 nghìn tấn); tiếp theo là Châu Phi: 51 nghìn tấn, Châu Mỹ: gần 44 nghìn tấn,…

- Cà phê: xuất khẩu trong tháng đạt 136 nghìn tấn, giảm 21% lượng xuất khẩu so với tháng 1/2008. Trị giá  là 210 triệu USD, giảm 32,5% so với cùng kỳ năm trước.

Thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong tháng qua là Bỉ với 28,4 nghìn tấn, Đức: 15,9 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 14,3 nghìn tấn, Ý: 12,2 nghìn tấn,…

- Cao su: trong tháng xuất khẩu 39 nghìn tấn, giảm 29,3% so với cùng kỳ năm 2008. Đơn giá bình quân xuất khẩu mặt hàng trong tháng giảm 43,9% (tương đương giảm gần 1 nghìn USD/tấn) và trị giá đạt gần 50 triệu USD, giảm 60,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tháng 1/2009, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam gần 28 nghìn tấn, chiếm tới gần 71% khối lượng xuất khẩu cao su của cả nước. Tiếp theo là Hàn Quốc: 1,91 nghìn tấn, Đài Loan: 1,45 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 1,12 nghìn tấn, Malaysia: hơn 1 nghìn tấn, …

- Gỗ và sản phẩm gỗ: kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong tháng là 197 triệu USD, giảm 32,7% so với tháng 1 năm 2008.

Hết tháng 1/2009, EU vượt lên là thị trường nhập khẩu nhóm mặt hàng này nhiều nhất của Việt Nam với 73,9 triệu USD, tiếp theo là Hoa Kỳ: 69,5 triệu USD, Nhật Bản: 24,7 triệu USD, Đức: 13,1 triệu USD,…

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: trong tháng xuất khẩu 147 triệu USD, giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường chính trong tháng 1/2009 nhập khẩu sản phẩm này là Nhật Bản với 26,9 triệu USD, Hoa Kỳ: 24,5 triệu USD, Thái Lan: 18,4 triệu USD, Hà Lan: 9,3 triệu USD, Trung Quốc: 8,3 triệu USD,…

- Đá quý, kim loại quý và sản phẩm: hết tháng 1 Việt Nam xuất khẩu hơn 139 triệu USD, tăng 614,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm mặt hàng này chủ yếu xuất sang các thị trường Thụy Sĩ là 112 triệu USD, Nam Phi là 16,5 triệu USD, Pháp là 2,6 triệu USD,…

III.   Nhập khẩu

1. Quy mô và tốc độ

Trong tháng 1/2009, tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của cả nước là 3,33 tỷ USD, giảm 55,2% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu 1,22 tỷ USD, giảm 45,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 36,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

2. Các mặt hàng chủ yếu

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trong tháng nhập khẩu 774 triệu USD, giảm 35,4% so với cùng kỳ năm 2008, chiếm 23,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

Trong tháng 1/2009 Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này chủ yếu từ Trung Quốc: 270 triệu USD, Nhật Bản: 111 triệu USD, Đài Loan: 53 triệu USD, Thụy Điển: 51 triệu USD, Singapore: 46 triệu USD, Đức: 46 triệu USD, …

- Xăng dầu các loại: trong tháng lượng nhập khẩu xăng dầu các loại là 867 nghìn tấn, giảm 34,5% so với tháng 1 năm 2008. Đơn giá bình quân giảm 45,2% (tương đương giảm 335 USD/tấn), nên kim ngạch nhập khẩu là 353 triệu USD, giảm 64,1% so với cùng kỳ năm 2008.

Trong đó, xăng nhập khẩu trong tháng là 279 nghìn tấn tương ứng với trị giá là 109 triệu USD; Diesel: 404 nghìn tấn tương ứng 177 triệu USD; Mazut: 105 nghìn tấn tương ứng 23,4 triệu USD; nhiên liệu bay: 75,6 nghìn tấn tương ứng 41,4 triệu USD; dầu hoả: 4,8 nghìn tấn tương ứng 1,8 triệu USD.

Thị trường chính cung cấp mặt hàng này cho Việt Nam là Singapore: 364 nghìn tấn, chiếm gần 42% tổng lượng xăng dầu nhập vào Việt Nam. Tiếp theo là Đài Loan: 190 nghìn tấn, Trung Quốc: 140 nghìn tấn, Hàn Quốc: 73 nghìn tấn,…

- Phân bón các loại: trong tháng nhập khẩu 179 nghìn tấn, giảm 48,2% so với tháng 1/2008, trị giá là 58,9 triệu USD chỉ bằng 47.8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó lượng phân Urê nhập khẩu trong tháng là 74 nghìn tấn, trị giá 21 triệu USD; Phân NPK: 13,5 nghìn tấn và 5,3 triệu USD; Phân DAP: 59,5 nghìn tấn và 24 triệu USD; Phân SA: 23 nghìn tấn và 2,72 triệu USD; Phân Kali: 8 nghìn tấn và hơn 5 triệu USD.

Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất cung cấp các loại phân bón cho Việt Nam trong tháng 1/2009 với 77,4 nghìn tấn, tiếp theo là Singapore: 22,4 nghìn tấn, Thụy Sĩ: 22 nghìn tấn, Ucraina: 21,2 nghìn tấn, Philippin: 10,6 nghìn tấn,…

- Sắt thép: trong tháng nhập khẩu 242 nghìn tấn, giảm 81,3% và trị giá 152 triệu USD, giảm 82,6% so với cùng kỳ năm 2008.Trong đó, lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng là 44 nghìn tấn và trị giá là 17,6 triệu USD.

Các đối tác chính cung cấp mặt hàng sắt thép cho Việt Nam trong tháng 1 năm 2009 vẫn là Trung Quốc: 43,9 nghìn tấn, Nga: 41,9 nghìn tấn,Hàn Quốc: 41,8 nghìn tấn, Đài Loan: gần 38 nghìn tấn, Nhật Bản: 22,3 nghìn tấn,…

- Chất dẻo nguyên liệu: trong tháng nhập khẩu 105 nghìn tấn với trị giá là 112 triệu USD, giảm 38,1% về lượng và 59,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2008.

Các thị trường chính cung cấp chất dẻo nguyên liệu cho Việt Nam trong năm qua là: Đài Loan: 17,9 nghìn tấn, Hàn quốc: 17,7 nghìn tấn, Singapore: 16,1 nghìn tấn, Thái Lan: 15,7 nghìn tấn, ..

- Ôtô nguyên chiếc và linh kiện: trong tháng nhập khẩu hơn 1,3  nghìn chiếc, giảm 77,3% so với cùng kỳ năm 2008, với trị giá là 27 triệu USD. Trong đó, lượng nhập khẩu ôtô 9 chỗ ngồi trở xuống là 836 chiếc, ôtô trên 9 chỗ ngồi là 71 chiếc và ôtô vận tải là 286 chiếc.

Hết tháng 1/2009, Hàn Quốc là thị trường chính mà Việt Nam nhập khẩu ôtô nguyên chiếc với 776 chiếc, tiếp theo là Hoa Kỳ: 226 chiếc, Trung Quốc: 95 chiếc, Nhật Bản: 46 chiếc. Lượng ô tô nguyên chiếc nhập từ 3 thị trường này chiếm tới 86,7% tổng lượng nhập của cả nước.

Trong tháng 1/2009, trị giá linh kiện và phụ tùng ô tô các loại nhập khẩu là 49,4 triệu USD, giảm 69,5% so với tháng 1/2008.

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: trong tháng nhập 170 triệu USD, giảm 53,2% so với cùng kỳ năm 2008. Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ Singapore với 44,1 triệu USD, Nhật Bản: 37,4 triệu USD, Trung Quốc: 28,7 triệu USD, Hồng Kông: 20,4 triệu USD,...

Tổng cục Hải Quan Việt Nam
Địa chỉ: 162 - Nguyễn Văn Cừ, Quận Long Biên, Hà Nội