TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THÁNG 5 VÀ 5 THÁNG ĐẦU NĂM 2009

I. Đánh giá chung.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam  trong 5 tháng đầu năm là 46,68 tỷ USD, giảm 25,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu là 22,91 tỷ USD, giảm 6,6% và nhập khẩu 23,82 tỷ USD, giảm 37,5%.

Xu hướng tăng nhập khẩu đang thể hiện rõ nét trong khi xuất khẩu tăng trưởng chậm đã làm thâm hụt thương mại tháng 5 lên tới 1,25 tỷ USD, bằng  28,4% kim ngạch xuất khẩu của tháng. Hết tháng 5/ 2009, thâm hụt thương mại cả nước là 908 triệu USD, bằng 4% kim ngạch xuất khẩu, mức thấp nhất từ trước tới nay.

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại

từ tháng 1/2009 đến hết tháng 5/2009.

II. Xuất khẩu.

1. Quy mô và tốc độ.

Tháng 5, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,41 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng 4. Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,84 tỷ USD, tăng 3,5% so với tháng trước; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực này 5 tháng lên 8,33 tỷ USD và chiếm 36,4% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

2. Một số mặt hàng xuất khẩu chính.

- Hàng dệt may: xuất khẩu trong tháng đạt 696 triệu USD, tăng 9,9% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 5 tháng lên 3,28  tỷ USD.

Trong 5 tháng đầu năm, Hoa Kỳ vẫn là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 1,81 tỷ USD, chiếm 55,2% tổng lượng xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, chỉ giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2008. Ngoài ra hàng dệt may Việt Nam còn được xuất sang các thị trường như EU: 588 triệu USD, giảm 2%; Nhật Bản: 357 triệu USD, tăng 16,6%; …

- Hàng thủy sản: Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thuỷ sản 5 tháng đầu năm 2009 vẫn giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước nhưng đây là nhóm hàng duy trì được tốc độ tăng trưởng liên tục trong 5 tháng qua.

Tháng 5, xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam đạt 316 triệu USD, tăng 2% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng đầu năm nay lên 1,37 tỷ USD.

Xuất khẩu thuỷ sản của nước ta trong 5 tháng qua tăng giảm không đồng đều ở một số thị trường chính. Cụ thể, xuất sang thị trường EU với kim ngạch 370 triệu USD, giảm 11,3%; sang Nhật Bản: 246 triệu USD, tăng 0,9%; sang Hoa Kỳ: 228 triệu USD, tăng 1,1%; Hàn Quốc: 100 triệu USD, tăng 0,91%,…

- Dầu thô: Lượng xuất khẩu dầu thô trong tháng 5 đạt 1,32 triệu tấn, tăng 1% so với tháng 4. Nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam 5 tháng đầu năm 2009 lên 6,9 triệu tấn, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù lượng xuất khẩu tăng, nhưng do giá bình quân giảm mạnh tới 53,6% so với cùng kỳ năm 2008 (tương đương với giảm 434 USD/tấn), nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này chỉ đạt 2,6 tỷ USD, giảm 43,6%.

Các thị trường chính nhập khẩu dầu thô của nước ta chủ yếu là Ôxtrâylia: 1,69 triệu tấn, Singapore: 1,32 triệu tấn, Malaysia: 1,07 triệu tấn, Trung Quốc: 528 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 500 nghìn tấn,…

- Hàng giày dép các loại :  tháng 5 xuất khẩu đạt kim ngạch 374 triệu USD, tăng 6,2% so với tháng 4. Theo chu kỳ thời vụ, dự đoán nhóm hàng này sẽ tiếp tục tăng trong các tháng tiếp theo.

Hết tháng 5, xuất khẩu nhóm hàng giày dép của nước ta đạt 1,66 tỷ USD, riêng thị trường EU nhập khẩu đạt 806 triệu USD, chiếm 48,4% thị phần xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đạt 446 triệu USD, sang Mêxicô đạt 52,8 triệu USD, sang Nhật Bản đạt 51,6 triệu USD, ,…

- Gạo: Tháng 5, lượng xuất khẩu gạo đạt 668 nghìn tấn, nâng tổng lượng của 5 tháng lên 3,15 triệu tấn, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu gạo bình quân tăng liên tục trong những tháng đầu năm và đạt 501 USD/tấn trong tháng 5. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong 5 tháng đầu năm 2009 đạt 1,49 tỷ USD, tăng 19,6% so với 5 tháng đầu năm 2008.

Tính đến hết tháng 5/2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang hầu hết các châu lục đều tăng trên 40% so với cùng kỳ năm 2008 (trừ Châu Mỹ). Trong đó, lượng gạo xuất khẩu sang Châu Á đạt gần 2,1 triệu tấn, tăng 42,1% và chiếm 66,5% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước; sang châu Phi: 618 nghìn tấn, tăng 63,4%; sang châu Mỹ: 215 nghìn tấn, giảm 15%; sang châu Âu: 122 nghìn tấn, tăng 120,6%; sang Châu Đại Dương: 100 nghìn tấn, tăng 106,6% so với cùng kỳ năm 2008.

- Cao su: trong tháng lượng cao su xuất khẩu đạt 43 nghìn tấn, tăng mạnh (96,3%) nên trị giá nhập khẩu đạt 63,8 triệu USD, tăng 101% so với tháng trước.

Hết tháng 5/2009, tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước là 184 nghìn tấn, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm 2008 và trị giá đạt 259 triệu USD,

Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 5 tháng qua với 129 nghìn tấn, chiếm 70,3% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là Hàn Quốc: gần 9 nghìn tấn, Malaixia: 6,2 nghìn tấn, Đài Loan: 5,4 nghìn tấn, Đức: 4,7 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 4,1 nghìn tấn,…

- Cà phê: xuất khẩu trong tháng đạt 91,7 nghìn tấn, giảm 26% so với tháng trước. Hết tháng 5, tổng lượng cà phê xuất khẩu đạt 651 nghìn tấn, tăng 22,6% và kim ngạch xuất khẩu đạt 970 triệu USD, giảm 11,4% so với cùng kỳ năm 2008.

Các thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong 5 tháng qua là Bỉ: 105 nghìn tấn, Đức: 70,4 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 68,3 nghìn tấn, Italia: 62 nghìn tấn, …

- Gỗ & sản phẩm gỗ: tháng 5/2009, xuất khẩu mặt hàng này đạt 175 triệu USD, giảm 10,7% so với tháng trước. Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam 5 tháng /2009 lên 934 triệu USD, giảm 20,2% so với cùng kỳ năm 2008.

Hết tháng 5, Hoa Kỳ tiếp tục trở thành thị trường nhập khẩu nhóm hàng này nhiều nhất của Việt Nam với 374 triệu USD, tiếp theo là thị trường EU: 259 triệu USD, Nhật Bản: 140 triệu USD, Trung Quốc: 39,8 triệu USD,…

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: trong tháng xuất khẩu đạt gần 218 triệu USD, tăng 6,4% so với tháng 4, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 5 tháng đầu năm 2009 lên 918 triệu USD.

Dẫn đầu về nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 5 tháng qua vẫn là thị trường Hoa Kỳ với 161 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản: 130 triệu USD, Thái Lan: 100 triệu USD, Trung Quốc: 74,8 triệu USD, Hà Lan: 57,6 triệu USD, Singapore: 54,5 triệu USD,…

III. Nhập khẩu.

1. Quy mô và tốc độ.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 5 xấp xỉ 5,7 tỷ USD, tăng tới 2,5 tỷ USD so với tháng 1 và là tháng thứ 3 liên tiếp có kim ngạch trên 5 tỷ USD. Trong đó, nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 1,99 tỷ USD, tăng 7,4% và các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 3,68 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng 4.

Tổng kim ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn đầu trực tiếp nước ngoài 5 tháng đầu năm 2009 là 8,38 tỷ USD, giảm 26,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 35,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.

2. Một số mặt hàng nhập khẩu chính.

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trong tháng, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 980 triệu USD, tăng 8,7% so với tháng trước. Nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2009 lên 4,39 tỷ USD, giảm 20,5% so với cùng kỳ 2008 và là nhóm hàng dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam. Trong đó, khu vực FDI nhập khẩu 1,46 tỷ USD và các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 2,93 tỷ USD.

Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt Nam trong 5 tháng qua có xuất xứ chủ yếu từ Trung Quốc với 1,46 tỷ USD, chiếm 33,3% tổng trị giá nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là Nhật Bản: 868 triệu USD (chiếm 19,8%), Hàn Quốc: 306 triệu USD (chiếm 7%), Hoa Kỳ: 247 triệu USD (chiếm 5,6%),…

- Sắt thép các loại: tháng 5/2009 nhập khẩu 934 nghìn tấn, tăng 26,4% so với tháng trước. Hết tháng 5/2009, lượng sắt thép nhập khẩu vào Việt Nam là 3,12 triệu tấn, giảm mạnh (44,9%) so với cùng kỳ năm 2008. Đơn giá bình quân nhập khẩu mặt hàng này trong 5 tháng qua giảm 28,1% (tương ứng với giảm 211 USD/tấn) nên trị giá là 1,68 tỷ USD, giảm 60% so với cùng kỳ năm trước.

Hết tháng 5/2009, lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam là 842 nghìn tấn, giảm 51,1% so với 5 tháng/2008, trị giá là 338 triệu USD, giảm 71,6%.

Nhóm hàng sắt thép các loại nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Nga với 601 nghìn tấn. Đứng thứ hai là Đài Loan: 462 nghìn tấn, tiếp theo là Nhật Bản với 404 nghìn tấn, Trung Quốc: 255 nghìn tấn, Hàn Quốc: 286 nghìn tấn, Malaysia: 254 nghìn tấn, Ucraina: 182 nghìn tấn…

- Thức ăn gia súc và nguyên liệu: tháng 5/2009, nhập khẩu nhóm hàng này vẫn tiếp tục ở mức cao với trị giá là 158 triệu USD, giảm nhẹ 1,5% so với tháng trước. Mặc dù hết 5 tháng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này thấp hơn 31,7% so với cùng kỳ năm trước, nhưng với mức kim ngạch 160 triệu USD/tháng thì nhập khẩu nhóm hàng này đang cao hơn so với mức bình quân của năm 2008 (146 triệu USD/tháng).

Nhập khẩu nhóm hàng này trong 5 tháng 2009 chủ yếu có xuất xứ từ các thị trường: Ấn độ: 234 triệu USD, giảm 52,8% so với cùng kỳ 2008; Achentina: 80 triệu USD, tăng 111%; Hoa kỳ: 63,4 triệu USD, giảm 6,67%; Trung quốc: 47,5 triệu USD, giảm 15,3%...

- Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày: nhập khẩu nhóm hàng này đã chững lại trong tháng với kim ngạch 670 triệu USD, giảm nhẹ 1,3% so với tháng trước. Hết 5 tháng, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này là 2,78 tỷ USD, giảm 17,2% so với cùng kỳ năm 2008.

Trong 3 tháng gần đây, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này luôn đạt trên 600 triệu USD, trong đó kim ngạch nhập khẩu của tháng 4 và tháng 5 đã gấp gần 2 lần tháng 1/2009. Đây cũng là một tín hiệu khả quan cho ngành dệt may và da giày của Việt Nam trong điều kiện kinh tế thế giới vẫn khó khăn như hiện nay.

- Xăng dầu: trong tháng nhập khẩu 1,13 triệu tấn, giảm 20,9% so với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu nhóm hàng này lên 5,67 triệu USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ 2008.

Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ Singapore với hơn 2 triệu tấn, chiếm 42% tổng lượng nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước. Tiếp theo là Đài Loan: 1,17 triệu tấn, Trung Quốc: 899 nghìn tấn, Hàn Quốc: 440 nghìn tấn, Nga: 294 nghìn tấn, Thái Lan: 221 nghìn tấn...

- Phân bón: trong tháng nhập khẩu 271 nghìn tấn, giảm mạnh 49,3% so với tháng trước với trị giá là 91 triệu USD. Hết 5 tháng/2009, cả nước nhập khẩu 1,93 triệu tấn phân bón các loại, giảm 4,6% so với 5 tháng 2008.

Biểu đồ 4 : Lượng nhập khẩu phân bón theo một số thị trường chính

5 tháng 2009 so với 5 tháng 2008

Trong 5 tháng đầu năm, nhóm hàng phân bón nhập khẩu chủ yếu vẫn có xuất xứ từ Trung quốc với 604 nghìn tấn, giảm 45% so với cùng kỳ năm trước, trong khi các thị trường khác lại tăng cao. Vì vậy, tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng này từ Trung quốc trong 5 tháng/2008 là 54% đã giảm xuống còn 31% tổng lượng nhập khẩu của cả nước trong 5 tháng 2009.

- Chất dẻo nguyên liệu: trong tháng 5/2009, lượng nhập khẩu là 178 nghìn tấn, giảm nhẹ (0,1%) so với tháng trước. Hết tháng 5/2009, lượng chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam là 821 nghìn tấn, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước, và kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này xấp xỉ  922 triệu USD.

Nhập khẩu nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam trong 5 tháng qua có xuất xứ chủ yếu từ các thị trường như Hàn Quốc: 170 triệu USD, Đài Loan: 158 triệu USD, Thái Lan: 121 triệu USD, Ả rập: 88,6 triệu USD, Singapore: 72,8 triệu USD,…

- Ôtô nguyên chiếc các loại và linh kiện, phụ tùng ôtô: lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu trong tháng 5/2009 là 4,8 nghìn chiếc, tăng 7,9% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 5/2009, cả nước nhập khẩu 17,08 nghìn chiếc với kim ngạch nhập khẩu là 302 triệu USD.

Trong 5 tháng đầu năm 2009, ô tô nguyên chiếc được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn Quốc: 11,3 nghìn chiếc, Nhật Bản: 1,8 nghìn chiếc, Trung Quốc: 1,2 nghìn chiếc, Hoa Kỳ: 918 chiếc,…

Trị giá nhập khẩu linh kiện & phụ tùng ô tô trong tháng 5 đạt 130,6 triệu USD, tăng 35% so với tháng 4, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này 5 tháng đầu năm 2009 lên 423,5 triệu USD.

Tổng cục Hải Quan Việt Nam
Địa chỉ: 162 - Nguyễn Văn Cừ, Quận Long Biên, Hà Nội