TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THÁNG 7 VÀ 7 THÁNG NĂM 2009

I. Đánh giá chung.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước trong 7 tháng đầu năm đạt 68,73 tỷ USD, giảm 23,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu là 32,55 tỷ USD, giảm 12,8% và nhập khẩu là 36,18 tỷ USD, giảm 31,2%.

Tháng 7, thâm hụt thương mại cũng tiếp tục ở mức cao với 1,52 tỷ USD, tăng 28,9% so với tháng trước và bằng 32% kim ngạch xuất khẩu. Hết tháng 7/2009, cả nước nhập siêu 3,6 tỷ USD, bằng 11% kim ngạch xuất khẩu.

 

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại

7 tháng từ năm 2004 – 2009

II. Xuất khẩu.

  1. Quy mô và tốc độ.

Tháng 7/2009, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,81 tỷ USD, tăng 1,5% so với tháng 6/2009.Trong đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 2,11 tỷ USD, tăng 6,4% so với tháng trước; nâng tổng kim ngạch xuất khẩu của khu vực này 7 tháng lên 12,51 tỷ USD và chiếm 38% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

 

  1. Một số mặt hàng xuất khẩu chính.

- Hàng dệt may: xuất khẩu trong tháng đạt 907 triệu USD, tăng 7,2% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 7 tháng lên 5,04  tỷ USD.

Hết tháng 7/2009, Hoa Kỳ tiếp tục là đối tác lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam với trị giá đạt 2,77 tỷ USD và chiếm tới 55,1% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước. Đứng thứ hai là thị trường EU với kim ngạch đạt 966 triệu USD, tiếp theo là thị trường Nhật Bản: 513 triệu USD, Đài Loan: 123 triệu USD, Canada: 104 triệu USD,…

- Giày dép các loại: trong tháng, xuất khẩu đạt 362 triệu USD, giảm 8,4% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 7 tháng lên 2,4 tỷ USD.

Các thị trường xuất khẩu giày dép chính của Việt Nam là EU và Hoa Kỳ đều có kim ngạch giảm mạnh trong tháng 7. Thị trường EU giảm 8,6% đạt 188,6 triệu USD và Hoa Kỳ giảm 14,9% chỉ đạt 76,7 triệu USD, mức thấp nhất kể từ đầu năm.

Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và giày dép

theo từng  tháng giai đoạn 2007 - 2009

 

- Hàng thuỷ sản: Tháng 7, xuất khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam đạt 433 triệu USD, tăng 14,2% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu 7 tháng năm 2009 lên 2,2 tỷ USD, giảm 7,9% so với cùng kỳ 2008.

Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang các đối tác lớn trong 7 tháng qua như sau:  thị trường EU với kim ngạch 593 triệu USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2008; Nhật Bản: 388 triệu USD, giảm 15,1%; Hoa Kỳ: 376 triệu USD, tăng 10,5%;  Hàn Quốc: 160 triệu USD, giảm 9,6%;…

- Dầu thô: trong tháng xuất khẩu 1,04 triệu tấn, giảm 9,0% so với tháng trước, nâng tổng lượng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam 7 tháng năm 2009 lên hơn 9 triệu tấn, tăng 17,0% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù lượng xuất khẩu tăng, nhưng do giá bình quân giảm mạnh tới 52,8% so với cùng kỳ năm 2008 (tương đương giảm 460USD/tấn), nên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 7 tháng năm 2009 đạt 3,71 tỷ USD, giảm 44,7%.

Các thị trường chính nhập khẩu dầu thô của nước ta chủ yếu là Ôxtrâylia: 2,4 triệu tấn, Singapore: 1,6 triệu tấn, Malaysia: 1,3 triệu tấn, Hoa Kỳ: 618 nghìn tấn, Trung Quốc: 587 nghìn tấn ,…

- Gạo: Tháng 7/2009, xuất khẩu gạo cả nước chỉ đạt 489,4 nghìn tấn, giảm 15,7% về lượng và giảm 22,5 % về trị giá so với tháng trước. Bên cạnh đó, đơn giá xuất khẩu bình quân của mặt hàng này đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm, chỉ đạt 410 USD/tấn (giảm 18,2% so với tháng 5, thời điểm đạt giá cao nhất). Tính đến hết tháng 7, xuất khẩu gạo của Việt nam đã đạt 4,2 triệu tấn, tăng 44,1% so với cùng kỳ năm 2008.

 

Biểu đồ 3: Giá bình quân và lượng xuất khẩu gạo 7 tháng năm 2009

 

Tính đến hết tháng 7/2009, lượng gạo của Việt Nam xuất sang hầu hết các châu lục đều tăng trên 30% so với cùng kỳ năm 2008 (trừ Châu Mỹ). Trong đó, lượng gạo xuất khẩu sang Châu Á đạt 2,56 triệu tấn, tăng 34% và chiếm 60,6% tổng lượng xuất khẩu gạo của cả nước; sang châu Phi: 933 nghìn tấn, tăng 112%; sang châu Mỹ: 359 nghìn tấn, giảm 18%; sang Châu Đại Dương: 211 nghìn tấn, tăng mạnh 258%; sang châu Âu: 158 nghìn tấn, tăng 90,6% so với cùng kỳ năm 2008.

- Cao su: trong tháng lượng cao su xuất khẩu đạt 82,3 nghìn tấn, tăng 21,9% và trị giá xuất khẩu mặt hàng này đạt 122 triệu USD, tăng 22,8% so với tháng trước.

Hết tháng 7/2009, tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước là 334 nghìn tấn và kim ngạch đạt 480 triệu USD, giảm 42,6% so với cùng kỳ năm 2008.

 Trung Quốc tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu cao su của Việt Nam trong 7 tháng qua với 229 nghìn tấn, chiếm 68,7% tổng lượng cao su xuất khẩu của cả nước. Tiếp theo là Hàn Quốc: 15,6 nghìn tấn, Malaixia: 14,8 nghìn tấn, Đài Loan: 11,1 nghìn tấn, Đức: 8,5 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 6,8 nghìn tấn,…

- Cà phê: xuất khẩu trong tháng đạt 53,3 nghìn tấn, giảm 31,9% so với tháng trước. Hết tháng 7, tổng lượng cà phê xuất khẩu đạt 788 nghìn tấn, tăng 17,0% và kim ngạch xuất khẩu đạt 1,17 tỷ USD, giảm 17,1% so với cùng kỳ năm 2008.

Các thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam trong 6 tháng qua là Bỉ: 114,6 nghìn tấn, Đức: 85,3 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 84,1 nghìn tấn, Italia: 73,6 nghìn tấn, …

- Gỗ & sản phẩm gỗ: Sau 3 tháng giảm liên tiếp, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 7 đạt 209 triệu USD, tăng 11,8% so với tháng trước, mức cao nhất kể từ đầu năm. Hết tháng 7/2009, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 1,34 tỷ USD, giảm 16,1% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam qua 7 tháng vẫn chủ yếu tập trung ở 3 thị trường chính là Hoa Kỳ: 566 triệu USD, chiếm 42,1%; EU: 314 triệu USD, chiếm 23,3% và Nhật Bản: 205 triệu USD, chiếm 15,3% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này. Tuy nhiên, diễn biến ở các thị trường lại trái chiều nhau. Thị trường dẫn đầu là Hoa Kỳ đang có mức tăng trưởng cao (mức tăng trung bình từ tháng 4 đến hết tháng 7 là 5,6%), thị trường EU lại có mức sụt giảm mạnh (trung bình là đạt 27,3 triệu USD/tháng trong 3 tháng gần đây, chỉ bằng 47,2% so với mức trung bình 4 tháng đầu năm).

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: trong tháng xuất khẩu đạt 248 triệu USD, tăng 10,0% so với tháng 6, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 7 tháng năm 2009 lên 1,4 tỷ USD.

Dẫn đầu về nhập khẩu nhóm hàng này của Việt Nam trong 6 tháng qua vẫn là thị trường Hoa Kỳ với 242 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản: 194 triệu USD, Thái Lan: 153 triệu USD, Trung Quốc: 125 triệu USD, Singapore: 91 triệu USD, Hà Lan: 85,6 triệu USD,…

III. Nhập khẩu.

  1. Quy mô và tốc độ.

Tháng 7/2009, trị giá nhập khẩu hàng hoá cả nước là 6,32 tỷ USD, tăng 7,1% so với tháng trước. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp FDI là 2,35 tỷ USD, tăng 10,2% và của các doanh nghiệp trong nước là 3,97 tỷ USD, tăng 5,4% so với tháng 6.

Xét về số tuyệt đối, trị giá nhập khẩu trong tháng tăng tới 422 triệu USD so với tháng 6, trong đó, tăng mạnh ở các nhóm hàng: máy móc thiết bị tăng 132 triệu USD, sắt thép các loại tăng 69 triệu USD (tăng 121 nghìn tấn); chất dẻo nguyên liệu tăng 47 triệu USD (tăng 34 nghìn tấn); phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 44 triệu USD, ...

  1. Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu.

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trong tháng, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 1,05 tỷ USD (mức cao nhất từ đầu năm 2009), tăng 14,4% so với tháng trước. Nâng tổng kim ngạch nhập khẩu 7 tháng năm 2009 lên 6,34 tỷ USD, giảm 17,9% so với cùng kỳ 2008.

Nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu vào Việt Nam trong 7 tháng qua có xuất xứ chủ yếu từ Trung Quốc với 2,1 tỷ USD, giảm 6,2%; Nhật Bản: 1,26 tỷ USD, giảm 21,9%; Hàn Quốc: 439 triệu USD; giảm 22,7%; Hoa Kỳ: 395 triệu USD, tăng 9,5%,... so với cùng kỳ năm 2008.

- Sắt thép các loại: tháng 7/2009, cả nước nhập khẩu hơn 1 triệu tấn thép các loại, tăng 13,8% so với tháng trước với trị giá là 511 triệu USD. Hết tháng 7/2009, lượng sắt thép nhập khẩu vào Việt Nam là 5,05 triệu tấn, giảm 22,8% so với cùng kỳ năm 2008.

Lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam trong tháng là 324 nghìn tấn, tăng 22% so với tháng trước. Hết tháng 7/2009, lượng phôi thép nhập khẩu vào Việt Nam là 1,4 triệu tấn, giảm 26,5% so với cùng kỳ 2008, trị giá là 565 triệu USD.

Mặc dù vẫn thấp hơn nhiều so với cùng kỳ tháng trước, nhưng lượng sắt thép nhập khẩu vào Việt Nam trong 3 tháng gần đây luôn ở mức cao (trung bình là 960 nghìn tấn/tháng) và nhiều khả năng lượng nhập khẩu cả năm sẽ nhiều hơn so với năm 2008.

 

Biểu đồ 4:  Nhập khẩu sắt thép từ các thị trường chính

7 tháng 2009 so với 7 tháng 2008

- Thức ăn gia súc và nguyên liệu: Trong tháng, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này 244 triệu USD, tăng nhẹ 1,9% so với tháng trước và là tháng thứ 2 đạt kim ngạch trên 200 triệu USD, cao hơn nhiều so với tháng nhập khẩu cao nhất của năm 2008 (là 190 triệu USD).

Tính đến hết tháng 7/2009, cả nước nhập khẩu 1,07 tỷ USD hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu, giảm  9,3% so với cùng kỳ năm 2008. Trong đó, nhập khẩu từ Achentina là: 294 triệu USD, tăng 202,6%; Ấn Độ : 285 triệu USD, giảm 52%; Trung Quốc: 98 triệu USD, tăng 32,4%; và Hoa Kỳ: 97,6 triệu USD, giảm 6,9% so với 7 tháng 2008.

- Nhóm hàng nguyên liệu ngành dệt may, da giày trong tháng nhập khẩu 648 triệu USD, nâng kim ngạch nhập khẩu 7 tháng/2009 lên 4,06 tỷ USD, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2008.

Bảng 1: Lượng, trị giá nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu ngành dệt may, da, giày 7 tháng 2009 và 7 tháng 2008

Tên hàng

7 tháng 2008

7 tháng 2009

Lượng
(nghìn tấn)

Trị giá
(triệu USD)

Lượng
(nghìn tấn)

Trị giá
(triệu USD)

Bông

172

262

149

183

Xơ, sợi dệt

240

466

277

420

NPL dệt may, da, giày

 

1.417

 

1.087

Vải

 

2.615

 

2.372

Tổng cộng

 

4.759

 

4.062

Hết 7 tháng 2009, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ các nước: Trung Quốc dẫn đầu với 1,14 tỷ USD, Đài Loan: 840 triệu USD, Hàn Quốc: 801 triệu USD, Hồng Kông: 234 triệu USD, Nhật Bản: 266 triệu USD,…

- Xăng dầu: trong tháng nhập khẩu 1,08 triệu tấn, tăng 4,4% so với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu nhóm hàng này lên 7,86 triệu tấn trong 7 tháng năm 2009, giảm 7% so với cùng kỳ 2008.

Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ Singapore với hơn 3,1 triệu tấn, tiếp theo là Đài Loan: 1,55 triệu tấn, Trung Quốc: 1,41 triệu tấn, Hàn Quốc: 734 nghìn tấn, Nga: 394 nghìn tấn, Thái Lan: 292 nghìn tấn, ...

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: nhập khẩu trong tháng là 364 triệu USD, tăng 7,7% so với tháng trước, nâng tổng trị giá nhập khẩu 7 tháng/2009 lên 1,95 tỷ USD, giảm 7,1% so với cùng kỳ 2008.

Tính đến hết tháng 7 năm 2009, Trung Quốc là thị trường dẫn đầu về cung cấp nhóm hàng này cho nước ta với 731 triệu USD, tăng nhẹ 0,5% so với 7 tháng/2008. Tiếp theo là Nhật Bản: 413 triệu USD, giảm 9,7%; Đài Loan: 156 triệu USD, giảm 5,5%; Malaysia: 154 triệu USD, giảm 2,2%; ...

- Chất dẻo nguyên liệu:  trong tháng nhập khẩu 226 nghìn tấn, tăng 17,9% so với tháng trước và đạt trị giá là 295 triệu USD. Hết tháng 7/2009, tổng lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của cả nước là 1,24 triệu tấn, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước và đạt trị giá là 1,46 tỷ USD.

Hết 7 tháng năm 2009, chất dẻo nguyên liệu được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn quốc : 235 nghìn tấn, tăng 44,0% so với cùng kỳ 2008; Đài Loan: 187 nghìn tấn, giảm 3,9%; Thái Lan: 173 nghìn tấn, tăng 7,1%, A rập Xê út: 142 nghìn tấn, tăng 78,1% …

- Phân bón: trong tháng nhập khẩu 246 nghìn tấn, giảm 19,2% so với tháng trước với trị giá đạt gần 85 triệu USD. Hết 7 tháng/2009, cả nước nhập khẩu 2,48 triệu tấn phân bón các loại, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2008.

Lượng phân Urê nhập khẩu vào Việt Nam trong 7 tháng qua là 768 nghìn tấn, phân SA là 662 nghìn tấn, phân DAP là 580 nghìn tấn, phân Kali là 230 nghìn tấn, phân NPK là 185 nghìn tấn.

Mặt hàng phân bón các loại được nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 885 nghìn tấn. Tiếp theo là Nga: 284 nghìn tấn, Ucraina: 202 nghìn tấn, Philippin: 193 nghìn tấn, Hàn Quốc: 154 nghìn tấn, Hoa Kỳ: 102 nghìn tấn, Đài Loan: 83,4 nghìn tấn,…

- Ôtô nguyên chiếc các loại và linh kiện, phụ tùng ôtô: trong tháng, lượng ôtô nguyên chiếc nhập khẩu là 8,68 nghìn chiếc, tăng 32,4%, trong đó loại xe từ 9 chỗ ngồi trở xuống là hơn 5 nghìn chiếc, tăng 51% so với tháng trước. 

Biểu đồ 5: Lượng nhập khẩu ô tô từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2009

Tính đến hết 7 tháng 2009, lượng xe nguyên chiếc nhập khẩu là 32,4 nghìn chiếc, giảm 23,9% so với cùng kỳ 2008 với trị giá là 524 triệu USD.

Ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ chủ yếu từ Hàn Quốc với 20,8 nghìn chiếc, chiếm 64% tổng lượng ôtô nhập khẩu của cả nước trong 7 tháng 2009. Nguồn hàng lớn tiếp theo là từ Nhật Bản: 3,06 nghìn chiếc, Hoa Kỳ: 2,5 nghìn chiếc, Trung Quốc: 2,3 nghìn chiếc, …

Trị giá nhập khẩu linh kiện & phụ tùng ô tô trong tháng 7 đạt 179 triệu USD, tăng 9,8% so với tháng 6, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này 7 tháng /2009 lên 778 triệu USD.

 

Tổng cục Hải Quan Việt Nam
Địa chỉ: 162 - Nguyễn Văn Cừ, Quận Long Biên, Hà Nội